TRONG NƯỚC
http://www.benhhoc.com/
http://hinhanhhoc.com/
http://www.sieuam.com/
Nhân đây, xin đăng lại một bài báo cũ về siêu âm chẩn đoán trong viêm gan (1998)
MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SIÊU ÂM trong VIÊM GAN
NGUYỄN THIỆN HÙNG, Trung tâm Y khoa MEDIC, Thành phố Hồ Chí Minh
I. ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm gan do nhiều nguyên nhân khác nhau (nhiễm trùng, do lạm dụng thuốc, do rượu, do một số bệnh hệ thống) là một bệnh hãy còn phổ biến và khó chẩn đoán sớm. Sau chiến tranh kéo dài hơn 30 năm, đất nước còn nghèo, đa số dân sống bằng nghề nông, chủ yếu là lao động thủ công, mà thói uống rượu vẫn rất phổ biến tại nông thôn. Vì dân trí thấp nên ý thức phòng bệnh chưa cao, dễ bị nhiễm bệnh, trong khi vấn đề phòng chống dịch bệnh và mạng lưới bảo vệ sức khỏe chỉ mới tạp trung vào một số bệnh thời khí và bệnh xã hội chủ yếu (như bướu cổ, sốt rét, lao, thấp khớp cấp...). Những báo cáo gần đây cho thấy tỉ lệ nhiễm viêm gan siêu vi B trong cộng đồng dao động từ 12-20%. Đến nay trong nước vẫn chưa triển khai kịp thời thuốc chủng ngừa viêm gan siêu vi B, cũng như các xét nghiệm phát hiện viêm gan B và C. Tại các bệnh viện lớn, hiện nay việc sinh thiết gan vẫn chưa được thực hiện thường qui.
Từ năm 1987 siêu âm chẩn đoán từng bước phát triển tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía nam hình thành một mạng lưới chẩn đoán hình ảnh siêu âm đến tận tuyến huyện, góp phần đắc lực trong việc phát hiện, chẩn đoán bệnh sớm và hiệu quả.
Khoảng năm 1993 các kit xét nghiệm truy tầm viêm gan B, C và A cũng như thuốc tiêm ngừa viêm gan B được một số cơ sở chẩn đoán và điều trị nhập về tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng giá tiền xét nghiệm và thuốc chích ngừa viêm gan B vẫn còn quá cao, bình quân xét nghiệm 5HBV là khoảng 190.000,0 đồng, và 210.000,0 đồng khác cho 3 mũi tiêm ngừa viêm gan siêu vi B, trong khi giá tiền cho một lần khám siêu âm là 20.000,0 đồng (thời điểm giá 1 đôla Mỹ là 11.673,0 đồng).
Trong vòng 10 năm trở lại có các báo cáo nước ngoài nghiên cứu viêm gan do nhiều loại nguyên nhân bằng siêu âm (khoảng hơn 120 báo cáo từ 1987 đến 1996 theo MEDLINE). Tuy có nhiều triệu chứng siêu âm được đề nghị để chẩn đoán, vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến vì không có triệu chứng bệnh lý đặc hiệu (nonspecific pathognomonic signs). Câu hỏi của chúng tôi là nên chăng dùng siêu âm chẩn đoán, và mạng lưới đến tuyến huyện của nó, để khám sàng lọc người nhiễm siêu vi gan B và C trong cộng đồng, những người này sau đó mới được xét nghiệm đánh dấu sinh học viêm gan B và C để xác chẩn, trong hoàn cảnh việc sinh thiết gan chưa thể thực hiện rộng rãi. Nhờ vậy không phải tốn kém chi phí rất lớn cho xét nghiệm đánh dấu sinh học viêm gan B và C để phát hiện bệnh (như cách làm của các nước khác), mà chỉ xét nghiệm khi có dấu hiệu bệnh khi khám lâm sàng và siêu âm.
Sơ đồ 1: Các yếu tố liên quan đến viêm gan tại Việt nam.
Sơ đồ 2: Mô hình chẩn đoán viêm gan kinh điển
.
Sơ đồ 3 : Mô hình chiến lược chẩn đoán viêm gan và thái độ xử trí do chúng tôi đề nghị.
Các từ khóa:
Viêm gan và viêm gan siêu vi B và C.- Xét nghiệm đánh dấu sinh học/ HBV và HCV markers.- Bệnh/ Không bệnh.- Uống rượu.- Lạm dụng thuốc.- Nhiễm siêu vi, vi trùng, ký sinh.- Siêu âm.- Đánh dấu.- Theo dõi.- Chích ngừa viêm gan B.
Mục đích của chúng tôi trong công trình này nhằm khảo sát khả năng chẩn đoán của siêu âm trong viêm gan như là biện pháp khám sàng lọc và ghi nhận các đặc điểm hình thái học gan trong viêm gan B và C qua một bảng tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan bằng siêu âm do chúng tôi hệ thống hóa và đề nghị, trong hoàn cảnh chưa làm được sinh thiết gan rộng rãi.
Do đó, công trình có mấy mục tiêu chính như sau:
1/ Hình thành bảng hệ thống hoá tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan bằng siêu âm.
2/ Đánh giá độ nhạy, độ chính xác và độ đặc hiệu của siêu âm trong chẩn đoán viêm gan khi so sánh với xét nghiệm sinh hoá và đánh dấu sinh học viêm gan siêu vi B và C.
3/ Nêu lên đặc điểm hình thái học của gan trong viêm gan, đặc biệt là trong viêm gan siêu vi B và C.
II. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Cho đến gần đây, viêm gan vẫn được quan niệm là chẩn đoán của lâm sàng và xét nghiệm (Choi, BI. 1996)(3) vì cấu trúc gan không thay đổi nhiều trên CT và MRI, chỉ có gan to và phù nề khoảng quanh cửa (periportal edema). Trong khi đó nhiều người làm siêu âm đồng ý rằng siêu âm có độ nhạy giúp phân biệt gan bình thường và bất thường (theo Irving, HC. 1994)(12). Nếu như trước năm 1990 rất ít sách siêu âm bàn về viêm gan, lần lượt Higashi,T. và cộng sự (1991)(9), Kurtz, AB. (1994)(10) và Hagen-Ansert,SL. (1995)(8) đã có những mô tả đặc điểm siêu âm về cấu trúc viêm gan cấp và mạn trong các sách loại cẩm nang (manual) và sách tham khảo (textbook).
Trong nước hầu như chưa có tài liệu nào về đặc điểm siêu âm trong viêm gan ngoại trừ các báo cáo của chúng tôi (đã đăng trong Y học TP. Hồ Chí Minh (18), Hình thái học (20) và Siêu âm ngày nay (21)).
1. Hình ảnh giải phẫu gan trên siêu âm:
- Về kích thước:
- Chiều cao gan phải: Bình thường là 13,0 cm, theo Niederau và cộng sự là 10,5 +/- 1,5 cm (31).
- Chiều trước sau gan phải: Bình thường là 15,0 cm.
- Chiều trước sau gan trái: Bình thường là 10,0 cm nhưng rất thay đổi, theo Niederau và cộng sự là 8,1 +/- 1,9 cm (31).
- Tỉ lệ gan phải/gan trái: Bình thường là 1,5; ở xơ gan là 1,1 (1).
- Về cấu trúc siêu âm: Gan bình thường có cấu trúc đồng dạng và echo dày trung bình (4).
2. Hình ảnh viêm gan trên siêu âm:
Từ năm 1993 chúng tôi đã đề nghị hệ thống hóa các tiêu chuẩn siêu âm chẩn đoán viêm gan như sau (16,21)(xem bảng 1):
BẢNG 1:TIÊU CHUẨN SIÊU ÂM ĐỀ NGHỊ CHẨN ĐOÁN VIÊM GAN
3. Những nghiên cứu trong và ngoài nước:
Garrassini,ME. và cộng sự (1995) cung cấp các dữ kiện lâm sàng, xét nghiệm và siêu âm của viêm gan A, B và C(5). Về lâm sàng, mệt mỏi, sốt, lạnh và có hạch thường gặp trong viêm gan A. Đau khớp, ngứa và phát ban thường gặp trong viêm gan B. Bilirubin thường cao hơn trong viêm gan B và C hơn là viêm gan A. Men ALT thường cao trong viêm gan B và A và thấp trong viêm gan C. Lách to thường gặp 45-50% viêm gan A và C và chỉ có 15% trong viêm gan B. Vách túi mật thay đổi trong 50% viêm gan A. Chỉ có 3,3% viêm gan B tiến triển mạn tính trong khi có đến 75% viêm gan C diễn tiến mạn tính. Ở trẻ em, Toppet,V.và cộng sự (1990) nhận thấy viêm gan A có các triệu chứng siêu âm như: gan to, vách túi mật dày, khoảng cửa sáng và có hạch rốn gan, vùng tụy và mạc nối nhỏ (28). Các hạch này có trung tâm echo dày. Ikeda,S. và cộng sự (1989) còn phân biệt trên siêu âm về thay đổi kích thước túi mật ở viêm gan trẻ sơ sinh và teo đường mật bẩm sinh (11). Narula,MK. và cộng sự (1989) thấy túi mật trong viêm gan cấp tăng bề dày vách, giảm thể tích và có echo bất thường trong túi mật trong 2-4 tuần (14). Giorgio,A. và cộng sự (1989) theo dõi thay đổi hình thái và tính chuyển động của túi mật (7) đáp ứng vối tổn thương gan cấp bằng siêu âm tức thời (real-time ultrasonography): túi mật hypotonic và hypokinetic trong 58,4% trường hợp (n=255) qua hiện tượng dày vách, tăng thể tích, và đáp ứng với chất béo thấp hơn nhóm chứng trong 3 tuần. Năm 1991, Sharma,MP. và cộng sự thấy túi mật trong viêm gan A dày vách (98,2% ca), tăng thể tích (25% ca), sẽ hồi phục hoàn toàn trong 12 tuần, và hiện tượng phục hồi lại túi mật là quy luật của diễn tiến bình phục về lâm sàng (25). Vogl,T. và cộng sự (1991) so sánh giá trị của MRI và CT với siêu âm trong bệnh lý gan lan tỏa: MRI có khả năng phát hiện các tổn thương viêm gan khu trú và mạn tính, trong khi CT và siêu âm phát hiện các tổn thương khu trú và lan tỏa của gan thấm mỡ (29). Tuy nhiên MRI lại phân biệt chính xác mô mỡ trong khối tân sinh. MRI phát hiện chính xác các thay đổi xơ hóa gan cao nhất. Trong bệnh Wilson, MRI cho thấy cấu trúc đặc trưng của chủ mô gan. Các tác giả như Naumov,N. và cộng sự (1987) và Castellano,G. (1994) dùng echo-histogram (2,15) nghiên cứu chủ mô gan trong bệnh lý gan mạn tính và bệnh lý gan lan tỏa. Ảnh hưởng của chiếu xạ, thuốc và rượu trên chủ mô gan cũng được nhiều tác giả ghi nhận. Vurbanov,G. và cộng sự (1989) nhận thấy trong lô nghiên cứu có 13% (n=108) trường hợp viêm gan cấp do rượu có ứ mật. Những bệnh nhân này có lipid toàn phần, gamma-GTP, ASAT, cholesterol, LDL-cholesterol, coefficent LDL/HDL-cholesterol, beta-lipoprotein cao hơn bệnh nhân ứ mật thông thường (30). Cấu trúc gan của nhóm bệnh lý gan lan tỏa được khảo sát bằng receiving characteristic analysis (6) (Garra,BS. và cộng sự,1989), ultrasonic attenuation coefficent của gan người và động vật hữu nhũ khác (24) được Parker,KJ. và cộng sự đối chiếu (1988). Suzuki,H. và cộng sự (1991) dùng cepstral analysis (26) khảo sát cấu trúc echo của bệnh lý gan mạn tính và frequency domain analysis (27) để đánh giá thay đổi cấu trúc trong bệnh lý gan lan tỏa, còn Oosterveld,BJ. và cộng sự nghiên cứu ultrasonic attenuation và texture analysis (23) của bệnh lý gan lan tỏa (1991).
Nhìn chung có nhiều cách khảo sát chủ mô gan và cấu trúc gan và túi mật, nhưng chưa có tác giả nào nêu được đầy đủ các đặc điểm siêu âm trong viêm gan và hệ thống hóa các tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan bằng siêu âm.
II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng:
là các bệnh nhân đến khám tại Trung tâm Chẩn đoán Y khoa từ nhiều nơi, chủ yếu là từ thành phố Hồ Chí Minh (xem phụ lục 1).
2. Thiết kế nghiên cứu:
là một nghiên cứu mô tả, cắt ngang và mù đơn, người khảo sát siêu âm gan không biết được kết quả xét nghiệm cận lâm sàng khác và kết luận sau cùng. Kết quả thu thập và kết luận chẩn đoán do bác sĩ lâm sàng thực hiện một cách độc lập.
a. Các biến số trong hỏi bệnh:
Tuổi, Giới, Tỉnh, Thành phố, Nghề nghiệp.
Các yếu tố : Xâm da (tattooing), Có thai,Truyền máu, Rượu, Lạm dụng thuốc, Sốt rét, Sau mổ, Thương hàn...
Tiền sử : Gia đình có ai bị viêm gan. Bản thân có bị viêm gan.
b. Các biến số trong xét nghiệm sinh hóa: ALAT, ASAT, (GOT, GPT), Gamma-GPT, 5HBV, AntiHCV.
c. Các biến số trong siêu âm gan: Kích thước gan P, gan T, thùy đuôi, bề dày khoảng cửa, mặt sau gan lồi/không lồi, góc gan nhọn/bầu, cấu trúc gan thô/dạng hạt nhỏ/đồng dạng, túi mật méo dạng/không, vách túi mật dày/phù nề/bình thường.
3. Mẫu nghiên cứu:
Cỡ mẫu được ước lượng theo công thức sau:
Tỷ lệ ước tính trong quần thể 15%
Độ tin cậy 95%
Độ chính xác tương đối (45-55%) 10% (của 50%)
Tra bảng ước lượng (13) một tỷ lệ 15% trong quần thể với một độ chính xác tương đối (45-55%) thì cỡ mẫu là 2177 người.
4. Chọn mẫu:
1/ Nhóm chứng 109 ca không có bệnh lý qua khám lâm sàng và siêu âm.
2/ Nhóm ngẫu nhiên đến khám siêu âm vì các lý do khác nhau: chán ăn, mệt mỏi,ăn không tiêu... 817 ca (nhóm I) được cho xét nghiệm sinh hóa và đánh dấu sinh học có sự thỏa thuận của bệnh nhân vì phải đóng tiên xét nghiệm.
3/ Nhóm đã được siêu âm nghi là viêm gan 1367 ca (nhóm II) được cho xét nghiệm sinh hóa và đánh dấu sinh học có sự thỏa thuận của bệnh nhân vì phải đóng tiên xét nghiệm. Nhóm này có 2 phụ nhóm dựa trên men gan gan tăng 1,5 lần và 3 lần so với bình thường.
5. Phương tiện nghiên cứu:
- Máy siêu âm KONTRON SIGMA 1, đầu dò sector 5 MHz.
- Men gan được đo tự động bằng máy Technicon (Mỹ).
- Xét nghiệm đánh dấu sinh học viêm gan B và C của Abbott (Mỹ).
- Số liệu thu thập và xử lý theo tỉ lệ % bằng phần mềm vi tính.
III. KẾT QUẢ
III.1. Nhóm I : Gồm 817 ca, có các giá trị sau khi đối chiếu với xét nghiệm đánh dấu sinh học HBV và HCV:
-Độ nhạy = a / a+c = 729 / 729 + 24 = 729 / 753 = 96,81 %
-Độ đặc hiệu = d / b + d = 34 / 30 + 34 = 34 / 64 = 53,12 %
-Giá trị phỏng đoán dương tính = a / a+b = 729 / 759 = 96 %
-Giá trị phỏng đoán âm tính = d / c+d = 34 / 58 = 58,6 %
-Độ chính xác= a+d / tổng số ca = 729 + 34 / 817 = 763 / 817 = 93,39%
III.2. Nhóm chứng:
Kết quả của chúng tôi ở 109 người (41 nam và 68 nữ) bình thường (22):
- Chiều cao gan phải là 11,84 +/- 0,66 cm.
- Chiều trước-sau gan phải là 12,25 +/- 0,78 cm.
- Chiều trước-sau gan trái là 8,99 +/- 0,82 cm.
- Thùy đuôi, với chiều ngang (dầy) là 1,71 +/- 0,32 cm.
III.3. Nhóm II : Gồm 1367 ca có xét nghiệm đánh dấu sinh học viêm gan B và C dương tính và men gan tăng từ 1,5 đến 3 lần so với bình thường (xem bảng 2) .
Xem bảng 2 chúng ta thấy có thay đổi cấu trúc gan và túi mật trong viêm gan siêu vi B, C nhưng ít (không hơn 24%) và không đặc hiệu qua siêu âm chẩn đoán.
IV. BÀN LUẬN
IV.1. Về khả năng sàng lọc của siêu âm trong viêm gan:
Khả năng phát hiện viêm gan của siêu âm khi đối chiếu với các xét nghiệm đánh dấu sinh học HBV, HCV và các xét nghiệm sinh hóa khác:
-Độ nhạy = 96,81 %
-Độ đặc hiệu = 53,12 %
-Giá trị phỏng đoán dương tính = 96 %
-Giá trị phỏng đoán âm tính = 58,6 %
-Độ chính xác = 93,39%
Với các kết quả của nhóm 817 ca, siêu âm có độ nhạy cao trong khám phát hiện viêm gan theo các tiêu chuẩn đề nghị tuy độ đặc hiệu không cao. Đáng chú ý là chỉ có thay đổi cấu trúc gan và túi mật không quá 24% các trường hợp của 1367 ca viêm gan B và C.
IV.2. Tính khả thi của siêu âm trong việc khám sàng lọc viêm gan:
- Giá rẻ.
- Có thể làm đi làm lại nhiều lần mà không gây hại.
- Máy siêu âm đã có ở tuyến huyện.
- Có tiêu chuẩn chẩn đoán rõ ràng, đơn giản và dễ thực hiện.
- Bệnh nhân chuộng và tin cậy phương pháp khám siêu âm. Bác sĩ nhận thấy cũng có ích khi sử dụng các thông tin của siêu âm, tuy rằng điều này tùy thuộc kinh nghiệm của bác sĩ đọc siêu âm.
IV.3. Thời gian chẩn đoán:
Không quá 24 giờ cho một chẩn đoán (lâm sàng, siêu âm và xét nghiệm) tại Trung tâm Y khoa MEDIC.
V. KẾT LUẬN
Mặc dù cấu trúc gan và túi mật không thay đổi nhiều trong viêm gan B và C và không đặc hiệu, chúng tôi nhận thấy dù sao bảng hệ thống hoá các tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan bằng siêu âm cũng có tác dụng định hướng chẩn đoán trong chừng mực nhất định. Với những nhận xét chủ quan về tình hình siêu âm hiện nay như đã nêu trên, chúng tôi hy vọng việc dùng siêu âm để khám sàng lọc viêm gan trong hoàn cảnh hiện tại là điều khả thi, góp phần trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, ngăn chặn lây lan viêm gan siêu vi trong cộng đồng và giảm thiểu các biến chứng có thể xãy ra như xơ gan, ung thư gan nguyên phát tại Việt nam.
VI. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.BLERY,M.,CHAGNON,S.,LAUGAREIL,P.: Apport de l’Echographie, de la Tomodensitométrie et de l’Imagerie par résonance magnétique dans l’exploration des cirrhoses, Journées Francophones de Radiologie, Cours de Perfectionnement Post-universitaire, Novembre 1988, Société Francaise de Radiologie.
2. CASTELLANO,G., GONZALEZ,A., COLINA,F., RODRIGUEZ,S., MUNOZ,MT., SANCHEZ,F., GARFIA,C., CASIS,B., FERNANDEZ,I., CANGA,F., et al: Diagnostic Value of the Hepatic Echo-Histogram in Chronic Hepatopathy, Rev.Esp.Enferm.Dig.,1993 Dec.;84(6):373-80. (MEDLINE 1994).
3. CHOI, BI: Diffuse Liver Disease: US, CT, MR in MRI, CT, Ultrasound: Current Status and Future Direction, Asian-Oceanian Seminars on Diagnostic and Interventional Radiology, Hong Kong, October 24-25, 1996.
4. CURRY,R.A và TEMPKIN, B.B.: Ultrasonography: An Introduction to Normal Structure and Functional Anatomy, 1st ed. W.B. Saunders Company, 1995.
5. GARASSINI,ME., GOMEZ,B., HERNANDEZ,A., MARIN,L., ALVARADO,M.: Clinical, Laboratory and Ultrasonography Features of Acute Viral Hepatitis, G-E-N,1994 Jul-Sep; 48(3):133-7. (MEDLINE 1995).
6. GARRA,BS., INSANA,MF., SHAWKER,TH., WAGNER,RF., BRADFORD,M., RUSSELL,M.: Quantitative Ultrasonic Detection and Classification of Diffuse Liver Disease. Comparison with Human Observer Performance, Invest.Radiol., 1989 Mar, 24(3):196-203. (MEDLINE 1989).
7. GIORGIO,A., FRANCICA,G., AMOROSO,P., FICO,P., DE STEFANO,G., PIERRI,P., LETTIERI,G., ALOISIO,T., FINELLI,L., PIERRI,G.: Morphologic and Motility Changes of the Gallbladder in Response to Acute Liver Injury. A Prospective Real-Time Sonographic Study in 255 Patients with Acute Viral Hepatitis, J.Ultrasound Med., 1989 Sep; 8(9):499-506. (MEDLINE 1989).
8. HAGEN-ANSERT, SL: The Liver , pp.99-158, Textbook of Diagnostic Ultrasonography (Volume 1), 4th ed. Mosby-Year Book, 1995.
9. HIGASHI,T., MIZUSHIMA,A., MATSUMOTO,H.: Introduction to Abdominal Ultrasonography, Springer-Verlag Berlin Heidenberg, 1991.
10. KURTZ, AB.: Ultrasound, ACR Learning Files, CD-Rom, 1994.
11. IKEDA,S., SERA,Y., AKAGI,M.: Serial Utrasonic Examination to Differentiate Biliary Atresia from Neonatal Hepatitis - Special Reference to Change in Size of the Gallbladder, Eur.J.Pediatr..1989 Febb.;148(5):396-400. (MEDLINE 1989).
12. IRVING, H.C. : Diffuse Liver Disease, pp. 295-307, in Clinical Ultrasound, a Comprehensive Text, Abdominal and General Ultrasound (2 volumes), Cosgroves,D., Meire,H., Dewbury,K. editors, Churchill Livingstone, Longman Group UK Limited, 1993.
13. LWANGA, SK and LEMESHOW,S: Sample Size Determination in Health Studies, A Practical Manual, WHO, Geneva, 1991 (bản dịch của Lê Hoàng Ninh và Trương đình Kiệt).
14. NARULA, MK., SACHDEV,HP., DUBEY,AP., GUPTA,NC., SAHA,MM.: Sonographic Evaluation of Gallbladder in Acute Viral Hepatitis, indian Pediatr.,1989 Jul;26(7):636-40. (MEDLINE 1989).
15.NAUMOV,V., LUKANOV,L. : The Echographic Histogram - Its Use in the Diagnosis of Diffuse Liver Diseases, Vutr.Boles, 1987;26(6):50-5. (MEDLINE 1987)
16.NGUYỄN THIỆN HÙNG: Siêu âm chẩn đoán trong viêm gan (sơ kết từ tháng 8/1993 đến tháng 6/1994), MEDIC 1994.
17. NGUYỄN THIỆN HÙNG: Thay đổi cấu trúc siêu âm gan mật trong viêm gan siêu vi B và C, MEDIC 1996.
18. NGUYỄN THIỆN HÙNG và PHAN THANH HẢI: Hình ảnh siêu âm chẩn đoán trong bệnh lý gan lan tỏa, Y học TP. Hồ Chí Minh, số 2, tập 1, 1997, tr,1-6.
19. NGUYỄN THIỆN HÙNG , PHAN THANH HẢI and PHẠM THỊ THU THỦY: Ultrasound in Hepatitis, Asean Association of Radiology 9th Congres, Singapore, 23-26, January, 1997.
20. NGUYỄN THIỆN HÙNG và PHAN THANH HẢI: Siêu âm chẩn đoán trong một số bệnh lý gan lan tỏa, Hình thái học, Tập 5 số 2-1995 và Tập 6 số 2-1996, tr.18-20.
21. NGUYỄN THIỆN HÙNG, PHẠM THỊ THU THỦY và PHAN THANH HẢI: Siêu âm chẩn đoán trong viêm gan, Siêu âm ngày nay, số 8, tháng 11-1996, tr.8-10.
22. NGUYỄN THIỆN HÙNG: Cấu trúc siêu âm và kích thước một số tạng bụng và đầu mặt cổ ở người Việt nam, Siêu âm ngày nay, số 10, tháng 5 và 7-1997, tr.9-11.
23. OOSTERVELD,BJ., THIJSSEN,JM., HARTMAN,PC., ROMIIJIN,RL., ROSENBUSCH,GJ.: Ultrasound Attenuation and Texture Analysis of Diffuse Liver Disease: Methods and Preliminary Results, Phys.Med.Biol.1991 Aug;36(8):1039-64. (MEDLINE 1991).
24.PARKER,KJ., ASZTELY,MS., LERNER,RM., SCHENK,EA., WAAG,RC.: In-vivo Measurements of Ultrasound Attenuation in Normal or Diseased Liver, Ultrasound Med.Biol.,1988,14(2):127-36. (MEDLINE 1988).
25. SHARMA,MP., DASARATHY,S.: Gallbladder Abnormalities in Acute Viral Hepatitis: a Prospective Ultrasound Evaluation, J.Clin.Gastroenterol. 1991 Dec.; 13(6):697-700.(MEDLINE 1991).
26. SUZUKI,K., HAYASHI,N., SASAKI,Y., KONO,M., IMAI,Y., FUSAMOTO,H., KAMADA,T.: Ultrasonic Tissue Characterization of Chronic Liver Disease Using Cepstral Analysis, Gartroenterology, 1991 Nov;101(5):1325-31. (MEDLINE 1991).
27. SUZUKI,K., HAYASHI,N., SASAKI,Y., KONO,M., KASAHARA,A., IMAI,Y., FUSAMOTO,H., KAMADA,T.: Evaluation of Structural Change in Diffuse Liver Disease with Frequency Domain Analysis of Ultrasound, Hepatology,1993 Jun;17(6):1041-6. (MEDLINE 1993).
28.TOPPET,V., SOUAYAH,H., DELPLACE,O., ALARD,S., MOREAU,J., LEVY,J., SPEHL,M.:Lymph Node Enlargement as a Sign of Acute Hepatitis A in Children, Pediatr. Radiol.1990, 20(4):249-52.(MEDLINE 1990).
29. VOGL,T., STEINER,S., HAHN,D., SCHEDEL,H., LISSNER,J.: Diffuse Liver Parenchymal Disease:the Value of MRI Compared to Sonography and CT, Rofo.Fortschr.Ged.Rontgenstr.Neuen.Bildgeb.Verfahr.1991May;154(5):495-503.(MEDLINE 1991).
30. VURBANOV, G.: The Clinico-Laboratory Characteristics of the Cholestatic Form of Acute Alcoholic Hepatitis, Vutr-Boles, 1989; 28(6):36-40. (MEDLINE1989).
31.WITHERS, C.E.: The Liver, Ultrasound Categorical Course Syllabus, pp.123-132, American Roentgen Ray Society, 1993.
VII. PHỤ LỤC:
Phụ lục 1: Mẫu nghiên cứu: Phân bố theo địa phương.
Số bệnh nhân n=1367
An giang 50, Vũng tàu 39, Bến tre 46, Bình định 05, Bình thuận 43, Cần thơ 05, Đắc lắc 50, Đồng nai 65,
Đồng tháp 49, Thành phố HCM 675, Khánh hòa 04, Kiên giang 15, Lâm đồng 09, Long an 90, Minh hải 18, Ninh thuận 01, Phú yên 03, Quảng ngãi 03, Sóc trăng 06, Sông bé 30, Tây ninh 29, Tiền giang 105, Trà vinh 35, Vĩnh long 39.
DÙNG SIÊU ÂM KHÁM SÀNG LỌC VIÊM GAN, NÊN HAY KHÔNG NÊN ?
Nguyễn Thiện Hùng, Trung tâm Y Khoa MEDIC, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tóm tắt : Mục tiêu: 1/ Hình thành bảng hệ thống hóa tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan bằng siêu âm. 2/ Tính độ nhạy, độ đặc hiệu và độ chính xác của siêu âm trong viêm gan. 3/ Nêu đặc điểm hình thái siêu âm trong viêm gan B và C. Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả, cắt ngang và mù đơn. Đối tượng: Có 2 nhóm bệnh nhân thuộc bệnh lý gan lan tỏa được khám siêu âm, sau đó được xét nghiệm sinh hóa và làm xét nghiệm dấu hiệu huyết thanh học HBV và HCV. Kết quả: Tác giả đề nghị các tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan bằng siêu âm ở 817 ca (nhóm I), có độ nhạy 96,81%, độ đặc hiệu 53,12% và độ chính xác 93,39% khi đối chiếu với dấu hiệu huyết thanh học HBV và HCV. Ở nhóm II, các thay đổi về cấu trúc gan (kiểu echo, khoảng quanh cửa, mặt sau, bờ gan, góc gan) và của túi mật được thống kê lại ở 1367 ca viêm gan siêu vi B và C, chỉ có 24% thay đổi ghi nhận được. Kết luận: Bảng hệ thống hóa tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan bằng siêu âm có tác dụng định hướng chẩn đoán. Việc dùng siêu âm để khám sàng lọc viêm gan có tính khả thi trong hoàn cảnh hiện nay (giá rẻ, chưa làm sinh thiết gan). Tác giả cũng đề cập đến vai trò và khả năng của siêu âm chẩn đoán trong bệnh lý gan lan tỏa trong chăm sóc sức khỏe ban đầu, nhằm hạ thấp các nguy cơ viêm gan siêu vi và ung thư tế bào gan nguyên phát.
SHOULD WE USE ULTRASOUND AS SCREENING MODALITY OF HEPATITIS ?
Nguyễn Thiện Hùng, MEDIC MEDICAL CENTER, HCMC.
Abstract: Objectives: 1/ Setting up a systematization on hepatitis ultrasound criteria. 2/ Finding out the sensibility, specificity and accuracy of ultrasound diagnosing in hepatitis. 3/ Showing characteristics of ultrasound findings in B, C hepatitis. Design: A descriptive, cross-sectional and single-blinded study. Objects:Two groups of patients had been examined by ultrasound scanning and after that performed blood tests including liver functions and serological markers of HBV and HCV. Results: Proposal of criteria for hepatitis diagnosing on 817 cases (group I) had the sensibility of 96,81%, the specificity of 53,12% and the accuracy of 93,39% in comparison to HBV and HCV serological markers. In group II, some changes of liver structure (echo patterns, periportal space, posterior surface, borders, liver angles) and gallbladder had been reported in 1367 cases of viral hepatitis B and C, only 24% of cases having liver morphologic changes. Conclusions: The proposal hepatitis ultrasound criteria seems to have an effect on diagnosing of liver disorders. Using ultrasound as screening tool of hepatitis is realizable to perform at present (low cost, difficult to perform liver biopsy). Author also implicated the role and capacity of ultrasound scanning in diagnosis of diffuse liver disease, in primary health care, to reduce the risks of viral hepatitis and hepatocellular carcinoma in Vietnam.
Được đăng bởi MEDIC VIETNAMESE DIAGNOSTIC ULTRASOUND vào lúc 06:55 0 nhận xét Các liên kết với bài này
Nguồn : http://nguyenthienhung.blogspot.com/2011_04_01_archive.html
NƯỚC NGOÀI
http://www.jultrasoundmed.org/content/22/11/1155.short
Rượu và bệnh xơ gan, vấn đề cai rượu
Rượu như là con dao 2 lưỡi. Rượu mang lại cho con người bao nhiêu ích lợi thì cũng mang đến cho con người bấy nhiêu sự phiền toái. Nếu chúng ta biết cách sử dụng thì rượu rất có ích. Nhưng một khi đã phụ thuộc nó thì sẽ lắm điều đáng tiếc xảy ra. Rượu còn là một trong những nguyên nhân gây bệnh xơ gan. caohocykhoa vừa nhận được bài viết về rượu của tác giả Nguyễn Thị Xuân Tinh xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc và cảm ơn tác giả.
RƯỢU VÀ BỆNH XƠ GAN, VẤN ĐỀ CAI RƯỢU
Giảng viên Bộ môn Nội- Trường Đại học Y Khoa Huế.
I. MỞ ĐẦU
Bệnh xơ gan là do nhiều nguyên nhân khác nhau gây nên, trong đó rượu là nguyên nhân phổ biến. Ở Pháp, nơi sản xuất rượu vang nổi tiếng với khoảng 80% dân chúng uống rượu, xơ gan do rượu chiếm khoảng 10% và tử vong do xơ gan đứng hàng thứ tư sau các bệnh ung thư.
Tuy nhiên trong vòng 20 năm trở lại, tỷ lệ chết vì xơ gan rượu ở Pháp và Mỹ giảm có lẽ do có sự vận động mạnh mẽ và có hiệu quả của chính phủ cũng như do sự thay đổi lối sống.
II TÁC HẠI CỦA RƯỢU
Uống rượu, bia không phải là một thói xấu, vì rượu là một yếu tố kích thích làm ngon miệng hơn, các buổi tiệc sôi động hơn do mọi người hưng phấn hơn. Rượu uống đúng liều hàng ngày có thể có lợi vì làm giảm tỷ lệ một số bệnh như nhồi máu cơ tim, cơn đột quỵ não, sỏi mật và cả bệnh Alzhelmer. Nhưng nếu chúng ta lạm dụng nó, uống qúa liều hay là bị lệ thuộc (nghiện) thì tác hại của rượu thật là khủng khiếp. Rượu gây nhiều tác hại đến các cơ quan quan trọng như gan, tụy, dạ dày, não, thần kinh ngoại biên, tủy xương, tim, thận, phổi, khớp. Rượu còn gây nên tình trạng say (quá chén) và nghiện làm ảnh hưởng xấu đến nhân cách, là một trong những nguyên nhân gây tai nạn giao thông, gây bạo hành trong gia đình, phạm pháp ngoài xã hội.
Gan là cơ quan chuyển hóa các chất nên bị tác hại trực tiếp.
III. RƯỢU GÂY TÁC HẠI TRÊN GAN BẰNG CÁCH NÀO?
Rượu sỡ dĩ gây độc cho gan là vì chất ethanol (cồn), chất này theo máu đến gan và được biến đổi thành Acetaldehyde rất độc. Chất này làm viêm và tiêu tế bào gan. Thật ra, gan tự sản xuất một số chất để bảo vệ chính nó, nhưng không đủ để chống lại sự tác hại của acetaldehyde khi ethanol được đưa vào cơ thể quá nhiều và thường xuyên. Do đó, nếu uống rượu nhiều và liên tục có thể gây viêm và xơ gan gan đến mức không hồi phục được nữa.
Có phải ai uống rượu cũng bị viêm và xơ gan không? Rượu gây độc cho gan phụ thuộc nhiều yếu tố:
1- Lượng cồn đưa vào: Cồn càng nhiều thì độc tính càng cao, như vậy nó không tùy thuộc loại rượu. Một số loại rượu hay xử dụng trên thị trường có nồng độ cồn như sau:
-Whisky, Voska, Johnnie walker, rượu gạo: Có nồng độ cồn 40%, mỗi 30ml có khoảng 10gr.
-Rượu vang: 100ml ~ 10gr.
-Bia: Nồng độ cồn 4,8%, 250ml ~ 10gr
Như vậy nếu nam giới uống trung bình trên 80gr/ ngày và nữ 60gr/ ngày, liên tục trên 10 năm thì nguy cơ xơ gan đến 12-15%. Nếu uống > 160gr/ngày liên tục 7 ngày thì nguy cơ viêm gan rượu sẽ xảy ra và nếu tiếp tục uống trên 8 năm thì nguy cơ xơ gan là 40%.
2. Cách uống: Rất quan trọng, nếu ngày nào cũng uống thì độc cho gan hơn khi uống thỉnh thoảng (vì gan không có thời gian hồi phục).
3. Về giới tính: Nữ dễ bị tổn thương gan do rượu hơn nam.
4. Tình trạng dinh dưỡng trước và trong khi uống: Nếu uống rượu trong tình trạng thiếu dinh dưỡng sẳn thì dễ bị tổn thương gan hơn.
5. Cơ địa: Ở những người bẩm sinh thiếu các yếu tố bảo vệ gan cũng góp phần làm cho gan bị tổn thương khi uống rượu quá liều, kéo dài.
IV. CÓ PHẢI UỐNG RƯỢU NGOẠI CÀNG ĐẮT TIỀN CÀNG ÍT BỊ BỆNH GAN KHỔNG?
Không, vì tác hại của rượu trên gan là do nồng độ cồn của rượu cho nên không liên quan đến loại rượu đắt hay rẽ tiền nhưng với đời sống kinh tế xã hội thấp, rượu rẽ tiền được xử dụng phổ biến hơn và dễ uống với lượng nhiều hơn.
IV. UỐNG RƯỢU NHƯ THẾ NÀO THÌ AN TOÀN NHẤT?
- Uống không qúa 10gr cồn trong 1 ngày bất cứ loại rượu gì. Không nên uống liên tục mà nên uống 2-3 ngày nghỉ 1 ngày. Đặc biệt nếu có sẳn bệnh gan thì cần uống ít hơn liều chuẩn nêu trên.
- Uống rượu nhưng phải ăn đủ dinh dưỡng nhất là protid ( từ đậu nành rất tốt)
V. NGƯNG UÔNG KHI ĐÃ VIÊM HAY XƠ, GAN CÓ HỒI PHỤC KHÔNG?
Không chắc sẽ hồi phục vì bệnh phụ thuộc nhiều yếu tố khác như : dinh dưỡng, các bệnh gan kèm (viêm gan siêu vi B,C, do thuốc)…và nhất là tổn thương gan ở giai đoạn nào (đang tiến triển, xơ gan còn bù hay đã mất bù, có biến chứng gì chưa (cổ trướng, vàng da kéo dài, chảy máu tiêu hóa, nhiễm trùng cổ trướng..). Tuy nhiên, ở giai đoạn gan thoái hóa mỡ, ngưng rượu gan sẽ hồi phục hoàn toàn. Một khi gan đã viêm hay xơ rồi, tuy không hồi phục được, nhưng bỏ rượu và dinh dưỡng tốt sẽ làm chậm tiến triển bệnh
VI. CAI RƯỢU CÓ KHÓ KHÔNG? TRIỆU CHỨNG KHI CAI RƯỢU
Khó, cai rượu cần phải có ý chí và sự giúp đỡ của người thân. Khi cai, có thể phải trải qua các giai đọan sau :
(Giai đoạn) Các triệu chứng chính (Thời gian sau lần uống cuối cùng)
(I) Lo lắng, mất ngủ, nôn, tăng kích thích. (5- 10 giờ.)
(II) Run tay, ảo giác (thính giác, thị giác), tăng huyết áp, nhịp tim nhanh, sốt, thở nhanh, toát mồ hôi. (6- 30 giờ.)
(III) Các cơn cai, thường 1- 4 cơn xuất hiện trong khoảng 5% trường hợp không được điều trị (8- 48 giờ.)
(IV) Mê sảng nặng ( DTs), tinh thần u ám, rối loạn định hướng, ảo giác, tăng huyết áp, hoang tưởng, 5% bệnh nhân có mê sảng nặng nếu không được điều trị, tử vong khoảng 5- 15%, thường do bệnh lý chính bên dưới. (3-5 ngày, có thể đến 12 ngày.)
Hội chứng cai rượu là một phức hợp các triệu chứng đi kèm với tình trạng giảm đột ngột nồng độ rượu trong máu ở người mà tế bào của họ đã phụ thuộc vào rượu. Họ là người mà tế bào thần kinh đã thích nghi với nồng độ rượu cao trong máu. Khi nồng độ rượu trong máu giảm xuống quá thấp, các triệu chứng cai bắt đầu xuất hiện. Một số người không có biểu hiện tất cả các triệu chứng trên, phần lớn diễn tiến lâm sàng thường nhẹ. Trường hợp nặng thường có mê sảng.
Sự lệ thuộc rượu ở mức tế bào phụ thuộc lượng rượu uống và thời gian uống. Ngưỡng cho khởi đầu của sự lệ thuộc là uống khoảng 10- 12 đơn vị rượu ( 1drink = 1 shot = 10 gr) / 1 ngày trong 2-3 tuần. Độ trầm trọng của chứng cai rượu càng tăng khi lượng uống và thời gian uống càng nhiều. Phần lớn những người nghiện rượu có thể có triệu chứng cai nhẹ thường xảy ra vào buổi sáng sau 1 đêm không uống rượu ( “sáng mở mắt” đã uống rượu). Kiêng không uống trong vòng 12 giờ thường có triệu chứng run tay, bồn chồn và khát rượu. Có khoảng 5% người uống rượu có hội chứng cai nặng. Triệu chứng khi ngưng rượu kéo dài bao gồm: lo lắng, trầm cảm, mất ngủ, rối loạn thần kinh thực vật nhẹ, tình trạng này có thể kéo dài trong nhiều tuần hay nhiều tháng sau khi đã ngưng rượu. Tình trạng kéo dài này có thể là yếu tố làm cho họ dễ uống trở lại, tình trạng lệ thuộc của tế bào dễ dàng được khôi phục nếu uống rượu trở lại.
VII. ĐIỀU TRỊ HỘI CHỨNG CAI RƯỢU
- Khi mới ngưng rượu ở giai đoạn sớm, thường cho dự phòng bằng thuốc ức chế thần kinh trung ưong, thay thế cho hiệu quả ức chế của rượu đó là benzodiazepine hay chlodiazepoxide. Đây là thuốc được lựa chọn vì hiệu quả và tính an toàn của nó do thời gian nữa đời dài. Thường cho trong ngày đầu, với thể nhẹ thì cho uống hay tiêm tĩnh mạch 25-50 mg chlordiazepoxide hay 5-10 mg diazepam mỗi 4-6 giờ. Nếu thể vừa và nặng thì cần liều cao hơn. Thuốc được giảm dần liều cho đến mức không vào ngày thứ 4 hay 5.
- Trường hợp hội chứng cai nặng: Biểu hiện tình trạng mê sảng nặng (Deliri -um tremens : DTs). Là tình trạng cấp cứu nội khoa cần phải nhập viện để đánh giá đầy đủ, cần cung cấp đủ năng lượng, điều chỉnh cân bằng điện giải và chuyển hoá, cần cho ngay Vitamin B1 50mg/TM và 50 mg TB. Điều trị tốt nhất DTs là dự phòng. thường cho diazepam kèm haloperidol (cẩn thận vì nó làm ngưỡng tri giác thấp hơn). Butyrophenone là thuốc ức chế thần kinh được dùng kết quả khá tốt. Ngoài ra phải điều trị hổ trợ và điều trị bệnh lý bên dưới.
GI/Liver secrets- Peter R. McNally, DO, FACP, FACG
Gastroenterology Service Fitzsimons Army Medical Center Aurora, Colorado
NGUYỄN THỊ XUÂN TỊNH



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét